Thursday, May 25, 2017

BỐN ĐIỀU ĐỨC PHẬT KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC

Có một đệ tử hỏi Đức Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn - The Honored One! Thế Tôn có thần thông và từ bi nhưng vì sao vẫn còn những chúng sinh trong thế gian phải chịu đựng đau khổ, phiền não như vậy?
Đức Phật trả lời:
- Ta có thần thông rất lớn nhưng có bốn điều vẫn không thể thực hiện được, chính là:
Điều 1: Nhân quả không thể đổi thay, tự gieo nhân thì tự nhận quả, người khác không thể nhận thay được.
Điều 2: Trí tuệ không thể cho được, bất kỳ ai muốn có trí tuệ thì phải tự mình tu dưỡng, tận tâm học tập.
Điều 3: Diệu pháp không thể diễn tả được. Bản thể chân thật, chân như của vũ trụ dùng ngôn ngữ không thể giải thích cho chúng sinh hiểu được. Chỉ có thể dựa vào thực chứng thông qua giác ngộ mà thôi.
Điều 4: Không có duyên thì không thể độ. Người không có duyên thì họ không bao giờ nghe những lời nói của Bậc Đại Giác Ngộ, Giác Ngộ. Mưa trời tuy lớn nhưng cây không rễ khó mà thấm nước; con đường Giác Ngộ tuy rộng mở nhưng khó độ người vô duyên.

Tuesday, May 23, 2017

HẠNH PHÚC VÀ NIỀM VUI

Sự khác nhau giữa niềm vui và hạnh phúc đôi khi khó phân biệt và vi tế. Hạnh phúc tỏa sáng bộc phát dưới dạng niềm vui. Một niềm hân hoan an lạc nội tâm không nhất thiết được biểu lộ một cách phô trương mà thông qua một thoáng cảm nhận đầy ý nghĩa về giá trị của giây phút hiện tại. Những điều ngạc nhiên, những niềm vui mạnh mẽ và bất ngờ cũng làm hạnh phúc tăng lên như những bông hoa nở rộ làm tăng vẻ đẹp của mùa xuân vậy.


Tuy nhiên, không phải bất cứ niềm vui nào cũng từ hạnh phúc mà ra. Như Christopher André đã nhấn mạnh trong cuốn sách rất có tính thuyết phục của ông về tâm lý con người khi hạnh phúc: “Có những thú vui không lành mạnh, khác xa trạng thái an lạc của hạnh phúc, ví dụ như thích thú trả thù […] Cũng có những trạng thái hạnh phúc bình lặng, đôi khi rất khác với sự phấn khích của vui sướng […] Người ta nhảy lên vì vui mừng chứ không nhảy lên vì hạnh phúc.”


Khó mà thống nhất với nhau về định nghĩa hạnh phúc nhưng chúng ta đã chỉ rõ điều gì là hạnh phúc chân thật. “Niềm vui” là một từ rất mơ hồ bởi vì như nhà tâm lý học Paul Ekman đã miêu tả, nó gắn với những xúc cảm đa dạng như những khoái cảm thuộc về giác quan, sự thích thú (từ mỉm cười tới cười ra nước mắt), trạng thái vừa ý (thỏa mãn một cách âm ỉ), hưng phấn (trước điều mới lạ hoặc trước một thách thức), xả hơi (sau khi đã bị sợ hãi, lo lắng hay thậm chí cả thích thú nữa), ngây ngất (trước điều ta ngỡ ngàng và thán phục hoặc vượt quá lý trí của chúng ta), say sưa (làm tâm hồn ta bay bổng), hớn hở (khi hoàn thành một nhiệm vụ khó khăn, giành được một chiến công), tự hào rạng rỡ (khi con cái ta nhận một phần thưởng xuất sắc), biết ơn (đánh giá quý trọng một hành động vị tha được dành cho mình) và sự khoái chí tàn bạo (khi sung sướng trên sự đau khổ của người khác bằng cách trả thù chẳng hạn); có thể liệt kê thêm các trạng thái khác như hân hoan, đắm say…


Mỗi loại cảm xúc được kể trong danh sách trên đều chứa đựng niềm vui, đa phần thể hiện bằng nụ cười, bằng vẻ mặt và giọng nói đặc biệt. Nhưng để một bộ phận gắn liền hoặc góp phần vào hạnh phúc, cảm xúc phải được giải phóng khỏi mọi tình cảm tiêu cực. Chỉ cần giận dữ hoặc ghen tuông nổi lên cũng đủ để niềm vui tắt ngấm. Chỉ cần hơi có thái độ bám chấp, ích kỷ hoặc kiêu mạn là niềm vui dần tắt lịm đi.
Để niềm vui có thể kéo dài và chín muồi một cách êm ả, để cho nó trở thành “một trạng thái rạng ngời, sung mãn” cần phải thêm vào đó những tố chất cấu thành một niềm hạnh phúc chân thật như trí tuệ, thiện tâm, giảm thiểu dần những cảm xúc tiêu cực và chấm dứt những thói đỏng đảnh của “cái tôi” – “ego” – “self”.


Tác giả: Thiền sư Matthieu Ricard.

Monday, May 8, 2017

GÓC NHÌN MỚI VỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM


BBC phỏng vấn giáo sư Keith Weller Taylor, giảng dạy môn lịch sử Việt Nam tại đại học Cornell, USA, xoay quanh một số quan điểm mới của giới nghiên cứu ngoại quốc nhìn về Việt Nam.

Keith Taylor: Lịch sử chính trị của người Việt Nam từ thế kỉ 15 đến bây giờ chủ yếu là lịch sử đấu tranh giữa những địa phương. Hiện nay ở Việt Nam, chính quyền rất muốn nói rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử thống nhất và người Việt Nam là một cộng đồng thống nhất. Nhưng thật ra theo tôi, về quan điểm lịch sử thì điều đó không đúng.

BBC: Hai mươi năm trước, ông xuất bản cuốn sách tên "Sự Khai Sinh Của Việt Nam" nói về sự quan hệ lịch sử giữa tổ tiên người Việt Nam và Trung Hoa. Từ đó đến nay quan điểm nói chung của ông có gì thay đổi?

Keith Taylor: Quyển sách của tôi in 20 năm trước rồi. Trước kia, tôi chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia, tôi đã nghĩ rằng không có quan điểm quan trọng gì giữa thời cận đại và thời quá khứ. Tôi đã nghĩ rằng chúng ta có thể nói về người Việt Nam trong những thế kỷ trước kia như ta nói về người Việt Nam hiện nay. Nhưng bây giờ tôi không nghĩ như thế nữa.
So sánh với thời cận đại thì thời quá khứ thật là kỳ lạ. Người Việt Nam thế kỷ thứ 13, 15, 17 không giống người Việt Nam thế kỷ thứ 20. Cho nên, tôi nghi ngờ về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục, tức là lịch sử của một nhóm lấy quyền hành chính trị muốn dùng chuyện lịch sử để giảng dạy và tuyên truyền dân chúng phải theo chính sách quốc gia của chính quyền, nhà nước. Lịch sử thống nhất liên tục là lịch sử bị chính trị hóa, không phải là lịch sử khoa học.

BBC: Vì sao ông cho rằng không khó khăn để nói nhiều nhân vật lịch sử như vua Hùng, Lê Lợi, Hai Bà Trưng là người Việt mà cũng là người Mường?

Keith Taylor: Trước thế kỷ 20, những người mà hiện nay ta gọi là người Kinh hay người Mường đã bị không bị phân biệt. Tất cả những người này đã cư trú trong một khu vực chính trị. Rất nhiều người có vai trò quan trọng trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lê Lợi đã ở những vùng mà hiện nay ta gọi là những địa phương người Mường.

BBC: Ông có viết là ngày xưa người Mường nhận diện bản thân họ và các dân tộc khác dưạ trên các địa danh nhưng ngày nay họ trở thành một sắc dân thiểu số. Ông có giải thích ý này được không?

Keith Taylor: Năm 1925, tạp chí Nam Phong đã in hai bài về người Mường. Một là do một người Mường đã viết, bài này không dùng thuật ngữ Mường mà chỉ nói về văn hoá tỉnh Hòa Bình và nói về những thế hệ lãnh đạo gọi Quan Lang bao gồm Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn... Quan Lang là tước hiệu của người lãnh đạo trong những địa phương hiện nay ta gọi vùng người Mường.
Bài thứ hai do một người Kinh viết, và bài này hoàn toàn về người Mường. Người Mường là thế nào, ý kiến dân tộc Người Mường trước thời Pháp thuộc thường gọi mình là người của chỗ này, chỗ kia...không bao giờ gọi mình là người Mường. Người Pháp đến muốn thống nhất hiểu biết về mọi loại người để đơn giản hóa hành chính và dễ cai trị. Và người Kinh đã theo xu hướng này cho nên rất nhiều loại người ở vùng trung du từ sông Hồng vào miền Trung bị thống nhất dưới tên người Mường. Chương trình phân loại người ra các dân tộc thiểu số là phát minh của chính quyền cận đại, nhà nước cai trị thuộc địa Pháp Quốc hoặc là chính phủ Quốc Gia Việt Nam.

BBC: Nhiều người vẫn hay cho rằng Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm nhưng gần đây một số nhà nghiên cứu, trong đó có ông cho rằng có nhiều khả năng quy nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh và khởi nghĩa là do các xung đột nội bộ trong từng vùng giữa các dân tộc nói tiếng Việt. Thí dụ, ông có nói chiến dịch chống nhà Đại Minh của Lê Lợi có thể được hiểu là một cuộc chinh phục của vùng Thanh Nghệ nghĩa là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đối với vùng Đông Kinh, tức là đồng bằng sông Hồng. Ông có giải thích ý này không?

Keith Taylor: Lúc đó phần nhiều người ở các vùng xung quanh Hà Nội tức là Đông Kinh theo chính quyền cai trị của nhà Đại Minh. Nguyễn Trãi là người Bắc thường và ông phải chạy đến Thanh Hóa. Hơn 9,000 người Đông Kinh đã làm việc cai trị cho nhà nước cai trị thuộc địa Đại Minh. Nguyễn Trãi viết thư cố thuyết phục họ bỏ nhà nước cai trị thuộc địa Đại Minh theo Lê Lợi. Người Đông Kinh nhìn Lê Lợi như một kẻ nổi loạn nhà quê. Sau khi Lê Lợi nắm quyền, những người này bị gọi là ngụy quan và bị phạt nặng.

BBC: Nhưng người ta hay nói mối quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Lê Lợi như một ví dụ cho sự đoàn kết giữa các vùng?

Keith Taylor: Các nhà sử học muốn nói rằng Việt Nam là một nước thống nhất, không có Đông Kinh và Thanh Nghệ. Nguyễn Trãi là người Đông Kinh và Lê Lợi là người Thanh Nghệ, vì thế việc hai người này trở nên đoàn kết sẽ chứng minh cho sự thống nhất của đất nước. Nguyễn Trãi là một nhà thơ tài năng, nhưng vai trò của ông về mặt chính trị và quân đội thì khá mờ nhạt. Lê Lợi và các tướng lĩnh khác chỉ muốn dùng tài năng thơ văn của Nguyễn Trãi để tuyên truyền và vận động dân chúng đứng về phía mình.

BBC: Ông nhìn về cuộc Nam tiến và nhân vật Nguyễn Hoàng như thế nào?

Keith Taylor: Nam tiến là một thuật ngữ lịch sử cận đại, là một học thuyết để khẳng định từ Bắc vào Nam chỉ có một đất nước, quốc gia. Đây là sự tuyên truyền của chủ nghĩa quốc gia, muốn phủ nhận những sự khác nhau giữa miền Nam và miền Bắc và muốn nói rằng văn hóa miền Nam chỉ có một nguồn. Và nguồn này phải ở miền Bắc, tức là lý do cho phép miền Bắc đô hộ miền Nam để giảng dạy người Nam thế nào là một người Việt Nam thật sự.
Nguyễn Hoàng đã bỏ miền Bắc Đàng Ngoài để xây dựng lãnh thổ ở miền Nam Đàng Trong. Nguyễn Hoàng đã có chính sách mở cửa về buôn bán ngoại quốc, đã dùng người có năng lực, tài năng. Tôi không có ý định thần tượng hóa Nguyễn Hoàng của miền Nam Đàng Trong tự do. Trong lịch sử quốc gia Việt Nam hiện nay, Nguyễn Hoàng không được đánh giá cao bởi vì vai trò lịch sử của ông không hợp với học thuyết thống nhất quốc gia của chính quyền, nhà nước.

BBC: Ông có cho rằng cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn có phải là cuộc chiến giữa hai quốc gia hay không?

Keith Taylor: Tôi nghĩ rằng trong hai thế kỷ 17 và 18 Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai quốc gia. Vì sao Việt Nam phải là một quốc thôi là vấn đề chiến tranh và chính trị, không phải là vấn đề lịch sử, xã hội và văn hóa.

BBC:Tại sao ông nói cuộc xung đột trong hoàng cung sau cái chết của vua Tự Đức năm 1883 có thể xem là một cuộc xung đột giữa Thuận Quảng và Thanh Nghệ?
Keith Taylor: Lúc người Pháp nắm quyền ở Huế, phần nhiều nhà nho trong địa phương Huế đã theo chính sách Pháp nhưng nhiều người lãnh đạo phong trào Cần Vương là người Thanh Nghệ. Cái này chỉ là tiếp tục của vấn đề tranh chấp giữa hai vùng này đã có từ lâu rồi trước khi người Pháp đến.

BBC: Theo cách kể của ông, tôi cảm thấy rằng những người ở vùng Thanh Nghệ luôn có sẵn tinh thần chống ngoại xâm. Tại sao lại như vậy?

Keith Taylor: Người Thanh Nghệ nghèo và khổ sở, cho nên rất dễ đi lính. Chúa Trịnh đã động viên phần nhiều lính ở Thanh Nghệ. Trong thời Chiến tranh thế giới I, phần nhiều người Việt Nam tình nguyện sang Pháp Quốc đi lính hay làm việc là người Thanh Nghệ. Người Thanh Nghệ cũng rất dễ nổi loạn. Năm 1957, cũng có nhiều người nổi dậy chống sự áp bức. Vấn đề này không có quan hệ gì đến tinh thần ái quốc.

Đọc thêm:

Keith Taylor: “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region”, trong tạp chí Journal of Asian Studies 57, No.4 (Tháng 11.1998).

Thursday, March 30, 2017

LÝ THUYẾT CHÚ ẾCH BỊ LUỘC – THE BOILING FROG ANALOGY


Ếch, như các động vật lưỡng cư khác, thuộc loại biến nhiệt, nghĩa là chúng không thể tự phát nhiệt để điều hòa thân nhiệt cho cơ thể. Vì vậy, thân nhiệt của chúng cao hay thấp tùy vào những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài.

Nếu bạn bỏ một con ếch vào nồi nước sôi, nó sẽ nhảy ra tức thì nếu có thể. Nhưng nếu bạn bỏ con ếch ấy vào một nồi nước ở nhiệt độ trung bình và từ từ đun nóng nồi nước ấy, chú ếch kia sẽ lim dim và rơi vào một trạng thái thoải mái như chúng ta khi nằm trong hồ phun nước ấm. Và rồi chú ếch ấy sẽ lim dim cho đến khi bị luộc chín mà không hề biết gì. Khi nhiệt độ cơ thể gia tăng đều đều theo nhiệt độ của nồi nước, chú ếch sẽ không có cảm giác "nóng" như con người.

Đây không phải là nghiên cứu khoa học đặc biệt chuyên sâu, nhưng sự khác biệt giữa CÓ và KHÔNG CÓ ý thức về những hiện tượng "nóng dần" chung quanh mình là một sự khác biệt rất sâu sắc.

- Thành phần phủ nhận sự thật: "Các hiện tượng báo động này là dối trá. Tại sao phải phí thời gian nói đến chúng chứ!?"

- Thành phần vô minh: "Các hiện tượng báo động này là thật. Nhưng chúng không có ngụ ý gì về một vấn nạn sẽ xảy ra. Không có chi là vấn đề cả."

- Thành phần thụ động: "Các hiện tượng báo động này đúng 100%; rất có thể chúng báo cho chúng ta biết rằng vấn nạn sẽ xảy ra. Nhưng còn lâu lắm chúng mới xảy ra và tôi không thể làm gì cả. Không phải chuyện của tôi!"

- Thành phần tích cực: "Không thể chối cãi được rằng có một vấn nạn đang hình thành. Có những chuyện cần phải làm và tôi cần phải đóng góp. Tôi không biết là tôi sẽ làm được gì nhưng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và làm những gì tôi có thể làm."

- Thành phần đóng góp: "Tôi biết tôi phải và có thể làm gì và tôi đang làm."

Điều làm con người sợ hãi là khi tư duy của một người ở trong một trạng thái thuộc về thành phần nào đó quá lâu, một dạng định kiến giữ nguyên hiện trạng – status quo bias – người đó sẽ vui vẻ chấp nhận hiện thực và cảm thấy thoải mái khi là một thành viên trong hệ thống ấy vì đó là hệ thống niềm tin của họ.

P/S: Đám ếch Venezuela đã và đang bới thùng rác tìm thực phẩm trong khi trong thập niên 1960, Venezuela là quốc gia thịnh vượng nhất Nam Mỹ, bên cạnh Argentina và Cuba.

Tuesday, February 7, 2017

A.Q VẪN ĐANG TỒN TẠI VÀ SỐNG [ĐÔI KHI TRONG CHÚNG TA]

Thi hào Trung Hoa Lỗ Tấn – Lu Xun –  魯迅
A.Q, một anh chàng thuộc tầng lớp bần nông ít học và không có nghề nghiệp ổn định. A.Q nổi tiếng vì phương pháp thắng lợi tinh thần. Thí dụ như mỗi khi anh bị đánh thì anh lại cứ nghĩ: "Chúng đang đánh cha của chúng!" A.Q có nhiều tình huống lý luận đến "điên khùng". A.Q hay bắt nạt kẻ kém may mắn hơn mình nhưng lại sợ hãi trước những kẻ hơn mình về địa vị, quyền lực hoặc sức mạnh. Anh ta tự thuyết phục bản thân rằng mình có tinh thần cao cả so với những kẻ áp bức mình ngay trong khi anh ta phải chịu đựng sự bạo ngược và áp bức của chúng. Lỗ Tấn đã cho thấy những sai lầm cực đoan của A.Q, đó cũng là biểu hiện của tính cách dân tộc Trung Hoa thời bấy giờ. Kết thúc tác phẩm, hình ảnh A.Q bị đưa ra pháp trường vì một tội nhỏ thật sâu sắc và châm biếm.
A.Q, nhân vật chính trong tác phẩm nổi tiếng của đại văn hào Lỗ Tấn vẫn còn "sống" tới tận bây giờ, xuyên qua thời gian dằng dặc và không gian mênh mông của thế giới loài người. Gã "sống" khi lẩn khuất, khi hiện diện trong mỗi chúng ta.
Nói tới A.Q là nói tới "phép thắng lợi tinh thần" –  vũ khí lợi hại chống kẻ thù và liều thuốc kỳ diệu để xoa dịu những vết thương thể xác, tâm hồn. Cũng phải điểm lại vài nét về nhân thân và tính cách A.Q để chúng ta hiểu rõ hơn về nhân vật đặc biệt này.
A.Q là đứa con hoang nên ngay cả một cái tên đàng hoàng cũng không có, dù là cái tên xấu xí. Đã thế, hình dáng gã lại chẳng lấy gì làm đẹp. Người thì ốm nhom, cái đuôi sam cũn cỡn vàng hoe. Trên đỉnh đầu là một đám thẹo lớn bóng lưỡng khiến cho đám trẻ hỗn hào trong làng cứ nhè vào đấy mà trêu chọc y ta. Là dân hạng bét nên A.Q bị ức hiếp đủ điều. Ai chửi y ta cũng được. Ai đánh y ta cũng được. Từ cụ cố họ Triệu cho tới thằng cu Don mà nguồn gốc cũng chẳng "sang" hơn hắn là bao.
Thân thích chẳng có, nhà cửa cũng không, A.Q kiếm cơm rượu hằng ngày bằng nghề làm thuê làm mướn. Dân làng Mùi, ai cần mướn việc gì, A.Q làm hết! Từ gặt lúa, giã gạo, khiêng vác, bửa củi… gã chẳng nề hà. Được chủ trả công, hắn ăn uống no say rồi nằm gác chân chữ ngũ, vỗ bụng ư ử hát, hát chán thì lăn ra ngủ. Cuộc đời gã quanh đi quẩn lại chỉ có thế.
Nhưng giống như nhiều người khác, A.Q là một khối mâu thuẫn lớn. Xuất thân hèn hạ, nhưng hắn lại rất tự cao tự đại. Ở láng Mùi có cụ cố họ Triệu và cụ cố họ Tiền là giàu sang nhất, ấy vậy mà gã coi chẳng ra gì. Con trai của hai cụ đậu bằng tú tài, sau lưng họ, A.Q khinh miệt gọi là lũ “[phương] Tây giả” và bĩu môi khinh bỉ: “Con tớ ngày sau lại làm được bằng năm bằng mười đám ấy à!” Thỉnh thoảng, A.Q lên thành phố, về làng kể chuyện cho mọi người nghe rặt bằng giọng chê bai rằng thì là người trên thành phố nói cái gì cũng sai, gọi cái gì cũng sai, cũng buồn cười. Nhưng dân làng Mùi lại còn dốt hơn thế, ngô nghê hơn thế lại chẳng đáng cười hay sao?!
Sức khỏe chẳng bằng ai nên A.Q thường bị đám con trai trong làng trêu chọc, đánh chửi. Mất dạy nhất là thằng cu Don. Nó cứ túm lấy cái đuôi sam rồi đè đầu A.Q vào tường bịch bịch năm bảy cái, rồi lại bắt A.Q phải nhận là con vật. A.Q tự nhận mình “là con sâu” để nó tha nhưng sau đó lại đứng ngẩn ra mà nghĩ: “Nó đánh mình thì có khác gì đánh cha nó! Thật thời buổi này hết chỗ nói! Con dám đánh cha!” Rồi đắc thắng hớn hở ra về. Gã nhận thấy mình là người “giỏi nhịn nhục bậc nhất” và ngoài việc ấy ra thì việc gì gã cũng vào ”bậc nhất” – có nghĩa là gã hơn hẳn nên có quyền khinh bỉ mọi người.
Đầu óc đã ngu si tăm tối mà lại luôn cao ngạo, tự tin, tự hào nên A.Q luôn gặp bất hạnh. Nhìn thấy thằng “Tây giả”, gã ngứa miệng chửi lén một câu, ai dè nó nghe được liền "phang cho một trận ba toong lên đầu". A.Q liều lĩnh sờ má ni cô chùa Tĩnh Tu vói suy nghĩ "sư cụ sờ được thì ta cũng sờ được" cũng bị chửi. Hôm làm thuê cho nhà cụ cố họ Triệu, thì sau khi ngỏ lời yêu "Chúng ta cùng nhau nào!" với vú Ngò, A.Q liền bị ăn trận đòn nên thân, bị phạt vạ mất hết cả tiền công, bị lột cả cái áo rách đang mặc.
Chán đời, A.Q bỏ lên thành phố nhập băng ăn trộm một dạo, được ít tiền lại bị mấy thằng lừa bịp dụ dỗ đánh bạc rồi cũng trắng tay. Muốn đi làm “cách mạng” thì bị xua đuổi, chẳng ai cho theo.
Cuối cùng, A.Q bị bắt oan và lỡ miệng tự thú với cảnh sát là có ý định "đi đầu hàng cách mạng”. Lúc bị bắt ký vào biên bản, vì không biết chữ nên A.Q đành vẽ một vòng tròn thay cho chữ ký. Khổ nỗi vẽ mãi mà chẳng tròn. Gã tự an ủi: “Con cháu tớ sau này ắt sẽ vẽ tròn hơn.” Lúc bị dẫn đi bêu phố, gã muốn hét lên một câu thật khí phách: “Hai mươi năm sau sẽ có…” (Chắc là sẽ có một tay hảo hán!) Gã chỉ tỉnh ngộ khi bị trói vào cọc bắn và lúc này thì gã kinh hoàng thật sự, chỉ kịp kêu lên:
- Cứu tôi với! Úi trời ơi!
Nhắc sơ qua về tính cách A.Q như thế để chúng ta ngẫm thử xem trong tính cách của mình có tí “A.Q” nào không nhé! Nhất là “phép thắng lợi tinh thần” – thứ thuốc an thần kỳ diệu nhất của kẻ yếu thế!