Saturday, September 16, 2017

KHÁI NIỆM TRANH LUẬN GIỮA NGƯỜI PHƯƠNG TÂY VÀ Á ĐÔNG

KHÁI NIỆM TRANH LUẬN GIỮA NGƯỜI PHƯƠNG TÂY VÀ Á ĐÔNG

Tác Giả: Drake Baer

Vào mùa xuân năm 23 tuổi, tôi [Drake Baer] đã sống 13 tháng ở Á Đông, dạy Anh Ngữ và đi du lịch khắp Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Là một chàng trai tóc vàng, cao hơn 1.8m (6’3”), tôi nhìn rất khác so với những người dân bản địa.

Nhưng có điều khác biệt ít ai có thể nhận ra, là một người phương Tây, tôi suy nghĩ/ tư duy rất khác so với những người bạn Á Đông. Từ quan niệm về hợp đồng, chấp nhận, sự bổ nhiệm – có sự khác biệt về văn hóa rất lớn.

Dựa theo những triết gia văn hóa, người phương Tây và Á Đông có cái nhìn đối lập nhau về quan niệm sự thật và cách nó hoạt động. Điều này đã xảy ra hơn ngàn năm rồi và đến hôm nay nó vẫn tồn tại trong tâm lý con người.

Nó bắt đầu từ cái nôi của hai nền văn minh: Hellas/ Greece cổ đại và Trung Quốc cổ đại. Nó bắt đầu với hai quan niệm [hoặc quy luật] khác nhau:
1. Người Hellas/ Greek cổ đại dựa theo quy luật “luật/ nguyên tắc phi trung lập”, nghĩa là nếu 2 người đang tranh luận thì một người trong 2 người đó phải được công nhận là đúng và người kia thì bị cho là sai.
2. Người Trung Quốc cổ đại thì ngược lại. Họ dựa theo “học thuyết trung lập/ ôn hòa”. Học thuyết này cho rằng nếu 2 người đang tranh luận thì có thể 2 người đó đều đúng hoặc cả 2 đều sai, toàn phần hoặc bán phần. Sự thật, việc đúng hoặc sai có thể không thuộc về ai mà nằm ở giữa cả 2 phe tranh luận.

Hai tư tưởng và lý thuyết này rất khác biệt và có nguồn gốc khác nhau.

Học thuyết trung lập/ ôn hòa bắt nguồn từ hệ tư tưởng và triết lý của Khổng Phu Tử: Khổng Giáo/ Nho Giáo, cách 2,500 năm trước đây. Học thuyết này được cho rằng là đỉnh cao của triết lý Khổng Giáo. Dựa theo nhà nghiên cứu Li-Jun Ji, Albert Lee và Tieyuan Guo trong cuốn “The Oxford Handbook of Chinese Psychology”.

Dựa theo cuốn sách đó, người Trung Quốc được khuyến khích tranh luận từ cả 2 khía cạnh trong một cuộc tranh luận, nghĩa là nên xem cả 2 phe đều đúng hoặc sai hoặc phân vai trò công bằng trong một cuộc tranh luận [không ai hoàn toàn đúng, không ai hoàn toàn sai].

Họ đã viết:
- Điều này cho thấy một sự khác biệt với quy luật phi trung lập của các nhà triết gia phương Tây. Họ khuyến khích con người khi tranh luận phải có lập trường và tranh luận đúng sai. Khác với học thuyết Trung Hoa, triết học phương Tây cho rằng việc giữ ôn hòa hoặc trung lập trong một cuộc tranh luận chẳng có ý nghĩa hoặc thành quả gì.
Trong ngôn ngữ Latin, cụm từ “quy luật trung lập” là: principium tertii exclusi. Aristotle đã viết về điều này trong cuốn “Ethics”, khoảng 2,300 năm trước đây.
- Không thể có một sự trung lập giữa 2 điều đối lập nhưng một trong 2 bên phải phản biện – đồng ý hoặc không đồng ý – với bên còn lại.

Trong một cuộc thử nghiệm xã hội học năm 1999, nhà tâm lý học Kaiping Peng và Richard E. Nisbett đã đưa cho sinh viên Trung Quốc và America/ U.S vài tình huống tranh cãi để xem họ giải quyết các vấn đề đó ra sao.

Kết quả từ cuộc thử nghiểm xã hội đó chứng minh sự khác biệt về triết lý:
1. 72% trong số sinh viên Trung Quốc đã cho những giải pháp thỏa hiệp.
2. 74% trong số sinh viên America/ U.S thì cho rằng một bên đã sai.

Như Khổng Giáo đã gợi ý, sinh viên Trung Quốc sẽ đưa những giải pháp biện chứng hoặc tìm sự đúng và sai trong cả 2 bên. Cũng như sự khác biệt về triết lý của Aristotle và Khổng Giáo, người phương Tây và Á Đông có 2 phương pháp và quan niệm khác biệt để giải quyết những vấn đề.

Nhưng 2 cách khác nhau đó không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ văn hóa. Trong cuốn “The Geography of Thought”, xuất bản năm 2004, Nisbett diễn tả quá trình tiến triển như sau:
- Địa lý của Trung Quốc bao gồm đa phần là đất nông nghiệp, độ cao thấp, ít đồi núi, nên việc tập trung hóa sự kiểm soát được thực hiện rất dễ dàng. Những người làm nông nghiệp cần phải làm việc với nhau trong sự ôn hòa. Điều này rất cần thiết vì họ sẽ làm việc lâu dài, nhiều lúc sát bên nhau và lâu dài. Điều này khiến con người Trung Quốc phải biết ý tứ, cẩn thận trong việc ăn nói để giữ ôn hòa. Vì khi đã mất ôn hòa thì rất khó giải quyết và sẽ ảnh hưởng đến mọi người xung quanh.

- Vì ai cũng muốn giữ ôn hòa, không ai muốn làm phật ý nhau nên người Trung Quốc thường tìm đến hệ thống kiểm soát tập trung [chính quyền/ nhà nước] để giải quyết xung đột. Vì sống với hệ thống quyền lực tập trung và ngại giải quyết vấn đề trực tiếp với nhau nên người Trung Quốc phải sống trong một xã hội đầy những cản trở tâm lý vô hình.

- Còn Hellas/ Greece cổ đại thì ngược lại. Địa lý Hellas/ Greece và đa phần châu Âu thì có rất nhiều núi đồi chia rẽ các vùng miền, làm cho các vùng miền cô lập. Vì vậy nên mỗi bộ tộc có sự riêng tư cao hơn. Địa lý của họ cho phép họ làm nghề săn bắn, bắt cá, thương mại mà ít khi nào phải dụng chạm với các bộ tộc/ nền văn hóa khác. Vì vậy nên họ không cần hoặc ít cần phải giữ ôn hòa với nhau để làm việc.

Địa lý của châu Âu cho phép và khuyến khích những người làm nông nghiệp sáng tạo và khám phá xa hơn phận địa của họ. Rất nhiều trong số những người đó trở thành thương gia hơn là nông dân. Người Hellas/ Greece cổ đại vì đó được làm việc theo ý của họ và có mức độ tự quyết cao hơn người Trung Quốc. Họ không cần phải giữ ôn hòa với nhau mà bất chấp đúng sai. Vì vậy nên họ đã cho ra đời ý tưởng bây giờ chúng ta gọi là “dân chủ”. Hellas/ Greece cổ đại tuy là một vùng đất nhỏ nhưng đã cho ra đời rất nhiều bộ tộc với các nền văn hóa khác nhau như: Spartan, Athens, Thebes, Thessaly và các nền văn hóa này ít khi nào phải nhượng bộ nhau trong các vụ tranh chấp địa lý hoặc chính trị.

Còn người Trung Quốc thì ngược lại, họ làm gì cũng phải giáp mặt nhau và không thể nào phát triển nếu không có sự ôn hòa. Đó là lý do tại sao người phương Tây khi tranh luận thì luôn có sự đối lập và có sự đúng sai, ít khi nào kết thúc bằng lý luận trung lập.

Còn người Đông Á [Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam...] thì ngược lại. Vì bị ảnh hưởng bởi triết lý Khổng Giáo, họ luôn phải giữ ôn hòa cho nhau, vì đó là đỉnh cao của xã hội họ. Nên khi tranh luận, họ ít khi nào dám giáp mặt và tranh luận đúng sai. Vì họ muốn giữ sự ôn hòa hơn là tranh luận. Họ thích sự lập lờ trong lập trường của mình hơn là bảo vệ nó.

Đó là sự khác biệt giữa triết lý tranh luận phương Tây và Á Đông.

Tuesday, September 12, 2017

TRÁI TIM DANKO – DANKO’S BURNING HEART

 Xưa kia, có một tộc người sống ở khu vực nọ, xung quanh lều trại của họ ba bên là rừng rậm, chỉ có một mặt là thảo nguyên. Họ là những con người khỏe mạnh và dũng cảm. Rồi một ngày kia, có những bộ lạc hùng mạnh từ nơi khác đến xua đuổi những con người đã ở đây từ bao đời vào tít rừng sâu.

Rừng sâu, nơi có những đầm lầy hôi thối, nơi mà cây cối dày đặc với gốc rễ chằng chịt và ánh mặt trời phải khó khăn lắm mới xuyên qua được lớp cành lá phủ bên trên. Rừng sâu, thế giới đầm lầy và bóng tối! Đám người khốn khổ kia phải đương đầu với những nỗi kinh hoàng mà thế giới ấy mang lại. Khi ánh mặt trời rọi xuống đầm lầy thì mùi hôi thối bốc lên cùng khí độc đã cướp đi sinh mạng của nhiều người trong số họ. Ban đêm tiếng gió rừng gào thét, bóng tối bao vây, dưới chân không lối đi. Bước đi khó khăn, mệt mỏi và sự chết chóc đã khiến cho những con người khốn khổ phải sầu thảm, tuyệt vọng và chán nản tột cùng. Phụ nữ, đàn bà và con nít thì khóc lóc thảm thương, đàn ông và trai trẻ thì ưu tư, chán nản và tuyệt vọng. Đôi khi họ muốn quay lại đối mặt với kẻ thù nhưng nếu làm vậy thì họ sẽ bị giết chết.

Nhưng họ không được quyền chết vì họ mang nhiệm vụ lớn lao với những lời di chúc thiêng liêng của tổ tiên. Hoàn cảnh của họ ngày càng bi đát; tiếng khóc lóc, cái chết dần mòn đang rình rập họ, và họ ngồi đó và chẳng biết làm gì... Rồi những suy nghĩ hèn nhát đã xuất hiện: họ sẽ quay lại và trao tự do cao quý vào tay kẻ thù, nghĩa là họ chấp nhận cuộc đời nô lệ còn hơn phải chết.

Nhưng lúc đó, Danko xuất hiện. Danko là một chàng trai trẻ đẹp, một người trong số họ. Chàng đứng lên và nói với đám người của mình:
- Lo nghĩ làm chi cho hao tâm tổn sức, suy nghĩ sẽ không giúp hất bỏ tảng đá trên đường. Hãy đứng lên và bước đi, xuyên qua rừng già chúng ta sẽ đến một nơi tốt hơn. Rừng sâu cũng có chỗ kết thúc. MỌI THỨ TRÊN ĐỜI ĐỀU CÓ CHỖ KẾT THÚC! ĐI ĐI! TIẾN LÊN!

Nhìn ánh mắt ngời sáng đầy nhiệt huyết của Danko, mọi người đồng thanh:
- Anh hãy dẫn chúng tôi đi!

Danko dẫn đoàn người đi, họ đi, đi và mỗi ngày họ càng đối mặt với khó khăn hơn vì cây cối ngày càng rậm rạp, đầm lầy ngày càng nhiều, bóng tối ngày càng dày đặc, họ mệt mỏi, thất vọng và phẫn uất.

Một ngày kia, không chịu nỗi thử thách, đoàn người đã buộc tội Danko:
- Mi đã dẫn chúng ta vào chỗ chết! Mi phải chết!

Danko nhìn đoàn người bao lấy chàng, họ muốn xé nát chàng ra, mắt họ trở nên như mắt sói. Danko bỗng nỗi cơn phẫn nộ nhưng tình yêu thương đã dập tắt ngọn lửa uất hận. Chàng yêu thương họ, họ là máu thịt của chàng và họ đang tuyệt vọng. Chàng muốn giúp họ thoát khỏi khốn cảnh này. Tình yêu thương trong chàng ngày càng mãnh liệt, nó rực sáng lên qua ánh mắt của chàng. Bỗng chàng đưa tay lên xé toang lồng ngực mình, dứt trái tim ra và giơ cao trên đầu.

Trái tim cháy rực rỡ như mặt trời, ánh lửa của nó phá tan mọi đe dọa của thiên nhiên, phá tan mọi trắc ẩn của lòng người. Chàng nói lớn:
- Đi thôi!

Cả đoàn người lại mạnh mẽ bước theo Danko. Họ bước theo ánh lửa soi sáng từ trái tim chàng; mọi khó khăn, mọi thử thách cứ thế lùi dần, lùi dần…Rồi thảo nguyên hiện ra trước mắt mọi người, nơi chan hòa ánh sáng và tươi xanh màu cỏ, một cuộc sống tốt đẹp đang chờ họ.

Danko nhìn thảo nguyên trước mặt rồi quay nhìn đoàn người đang hớn hở, chàng nở một nụ cười rạng rỡ rồi ngã xuống.

Trái tim Danko vẫn bừng cháy một khoảng thời gian rồi từ từ tắt dần. Tuy nhiên, nó không tắt hẳn mà vẫn còn những tia sáng phát ra. Một người trong đám đông lo lắng những điều không hay xảy ra nên đã dẫm lên trái tim cho nó tắt hẳn.



Tác giả: Maxim Gorky.








Tuesday, September 5, 2017

SỰ KHINH THƯỜNG ĐẦU ĐỘC MỐI QUAN HỆ NHƯ THẾ NÀO?

SỰ KHINH THƯỜNG ĐẦU ĐỘC MỐI QUAN HỆ NHƯ THẾ NÀO?

John Gottman, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về hôn nhân và các mối quan hệ, đã thực hiện nghiên cứu mở rộng để giải thích lý do quyết định thành công hay thất bại của các cuộc hôn nhân và mối quan hệ.

Ông mô tả 4 nhân tố chính đặc biệt gây hại cho các mối quan hệ:
i. Chỉ trích
ii. Phòng vệ
iii. Cản trở
iv. Khinh thường.

Yếu tố tai hại nhất chính là sự KHINH THƯỜNG.

Gần như chúng ta luôn có thể dự đoán được kết cục của một cặp hôn phối/ bạn đời dựa trên yếu tố này, trừ phi họ nỗ lực thay đổi. Khinh thường là một thói quen xấu và là cách lười biếng để bày tỏ sự lo ngại hoặc thất vọng về các hành vi. Nó cũng thể hiện sự tự cao tự đại và cho rằng mọi vấn đề đều do đối phương còn bạn thì hoàn toàn trong sạch, không có lỗi, chín chắn và tốt đẹp hơn. Thay vì xử lý các hành vi và ảnh hưởng của nó, bạn xem đối phương là người kém cỏi, vô dụng, đáng thất vọng. Điều này hủy hoại mối quan hệ, hơn thế nữa nó còn đầu độc chính bạn. Nó ăn mòn bạn từ bên trong.

SỰ KHINH THƯỜNG LÀ GÌ VÀ NÓ BIỂU HIỆN NHƯ THẾ NÀO?

Trang Free Online Dictionary định nghĩa “khinh thường” là cảm giác hoặc thái độ xem ai đó hoặc điều gì đó là thấp kém, đê hèn hoặc vô dụng.

Một số từ điển khác bổ sung thêm sự mỉa mai, thể hiện rõ sự chán ghét và không tôn trọng. Nó có thể được biểu hiện qua những lời chế nhạo, mắng chửi, nhạo báng, xúc phạm…

Nó cũng có thể liên quan đến việc so sánh đối phương với người mà bạn nghĩ là “tốt hơn”.

Dưới đây là một số thí dụ. Tôi thường nghe các cặp đôi nói với nhau những câu dưới đây [bằng nhiều biến thể khác nhau]:

- Anh chưa bao giờ là người bạn đời/ hôn phối/ cha/ người yêu/ bạn trai tốt.
- Anh không phải là đàn ông.
- Tôi hối hận vì đã cưới/ kết hôn với cô, nếu tôi biết cô là người như vậy, tôi sẽ không bao giờ kết hôn với cô.
- Cô không hề biết làm tôi cảm thấy vui vẻ.
- Cuộc hôn nhân của chúng ta thật vô nghĩa. Anh chưa bao giờ làm tôi hạnh phúc.
- Đàn ông/ phụ nữ các người đều là…
- Anh/ cô là đồ…
- Anh làm tôi thấy ghê tởm.
- Giá mà anh bằng một phần của X, Y, Z…
- Cô thật thảm hại.
- Tôi đã lãng phí gần như cả cuộc đời khi ở bên cạnh anh.
- Biết ngay mà, lúc nào cô ta chẳng làm như vậy.
- Anh giống cha anh như đúc.

Nói với người khác về người bạn đời/ hôn phối của mình:
- Anh ta/ cô ta kém cỏi đến nỗi tôi không biết anh ta/ cô ta có biết đun nước không nữa.

BẠN PHẢI LÀM GÌ NẾU THẤY MÌNH CÓ XU HƯỚNG KHINH THƯỜNG ĐỐI PHƯƠNG?

1. HỌC CÁCH BÀY TỎ SỰ THẤT VỌNG BẰNG HÀNH ĐỘNG HOẶC LỜI NÓI TÍCH CỰC HƠN

Tất cả chúng ta đều có lúc không vừa ý/ thỏa mãn về đối phương, nhưng đó thường là một hành vi kích động và nó thể hiện một nhu cầu chưa được đáp ứng, một nỗi sợ hay một cảm giác yếu đuối bên trong ta. Cách nói không phù hợp:

- Anh đúng là một người bạn đời/ hôn phối tồi tệ, mà có khi anh cũng chẳng phải là người bạn đời đúng nghĩa/ một người đàn ông chân chính. Giữa chúng ta không có quan hệ kiểu hôn phối. Mọi thứ là giả dối hết. Anh chỉ dán mắt vào TV trong khi tôi phải làm hết mọi việc.

Một cách xử lý chín chắn hơn là nói với bạn đời rằng có một điều gì đó họ làm đã ảnh hưởng tiêu cực đến bạn, dù cho họ không cố ý, và bạn muốn tìm ra cách để xử lý êm xuôi.

- Chuyện tối qua khiến em phiền muộn, buồn bã dù em biết anh không hề cố ý làm việc đó. Em muốn chúng ta tìm hiểu lý do tại sao và xem xem có cách giải quyết nào tốt cho cả hai không. Bây giờ mình nói chuyện được không?

Nếu chưa nói chuyện được, hãy hẹn đối phương một thời điểm nào đó trong tuần. Còn nếu đây là thời điểm tốt, hãy từ từ nói ra vấn đề, rồi im lặng lắng nghe ý kiến của họ.

2. HÃY NHỚ LẠI VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG GÌ BẠN TỰ NHỦ VỀ HÀNH VI KHÔNG TỐT CỦA BẠN ĐỜI/ NGƯỜI HÔN PHỐI VÀ XÉT XEM CÓ KHUYNH HƯỚNG NÀO HAY KHÔNG.

Khi ta trải qua cảm giác đau đớn, tức giận, thất vọng dữ dội hay lặp đi lặp lại, nguyên nhân có thể là do đối phương đã nói hoặc làm điều gì đó nhiều lần. Tuy nhiên, thật ra phần lớn những cảm xúc tiêu cực đều bắt nguồn từ bản thân ta, từ quá khứ và cách ta nghĩ về họ cùng những hành vi của họ. Điều này không có nghĩa là đối phương không có trách nhiệm trong việc tìm kiếm một cách xử lý mà đôi bên cùng thắng. Song khi thảo luận với họ, hãy chú ý là chỉ tập trung vào hành vi hoặc lời nói làm bạn thấy khó chịu (hay những điểm bạn mong muốn họ cải thiện) và cách nó ảnh hưởng đến bạn. Điều này hoàn toàn khác biệt so với việc thể hiện rằng đối phương là một kẻ vô dụng.

3. TÌM KIẾM NHỮNG ĐIỀU TÍCH CỰC TỪ BẠN ĐỜI/ NGƯỜI HÔN PHỐI NHỮNG ĐIỀU TÍCH CỰC TỪ NGƯỜI HÔN PHỐI/ BẠN ĐỜI/ NGƯỜI THÂN, TỪ GIA ĐÌNH, TRONG CHÍNH BẢN THÂN VÀ CUỘC SỐNG CỦA BẠN

Mặc dù việc bày tỏ sự thất vọng, đau đớn, lo lắng là rất quan trọng, song việc công nhận những hành vi và lời nói tốt đẹp của đối phương cũng quan trọng không kém. Khi bắt gặp những lần họ tự giác giúp bạn, hoặc nỗ lực làm điều gì đó, hãy thừa nhận sự tiến bộ và công sức của họ. Hãy tìm kiếm các cử chỉ này ít nhất hai lần mỗi tuần (hoặc hơn) và thể hiện sự cảm kích:

- Em rất vui vì anh đã làm việc chăm chỉ để chúng ta có cuộc sống đầy đủ.

- Em rất biết ơn khi anh đã vô cùng kiên nhẫn với những câu hỏi không dứt của bé Sammy.

- Anh rất ngưỡng mộ cách em trả lời lại người đó.

- Anh rất cảm kích khi em luôn gọi điện hỏi thăm mẹ anh mỗi lần một tuần.

-Em rất vui vì anh mua cho em món bánh mà em thích nhất. Nó làm em cảm thấy anh rất chu đáo và em đã mỉm cười khi nhìn thấy nó – không chỉ vì em thích ăn bánh – mà còn vì tấm lòng của anh.

-Em rất cảm kích vì anh luôn lạc quan về mọi điều trong cuộc sống.

Khi rơi vào bẫy khinh thường, bạn sẽ không còn nhìn thấy những điều tích cực.

Lúc này, bạn chỉ tập trung vào những thứ tiêu cực, chờ xem lần tiếp theo đối phương khiến bạn thất vọng là khi nào. Thái độ này biến những gì bạn nghĩ thành lời tiên tri tự ứng nghiệm.

Tôi thường nói với những cặp đôi rằng hãy cầm rác bằng một tay – những gì cần sửa chữa hay tái chế. Còn tay kia hãy cầm những gì tốt đẹp phục vụ cho cuộc hôn nhân hay mối quan hệ của họ. Không thứ nào triệt tiêu được thứ còn lại. Cả hai đều tồn tại song song.

Bạn cần chú ý đến những điều tích cực và học cách bày tỏ những điều tiêu cực như một người trưởng thành.

Chỉ trích, đổ lỗi, hạ nhục, công kích, khinh thường cũng giống như việc rên rỉ, thương hại hay cáu giận.

Bạn tuyệt vời hơn thế nhiều.

Sự khinh thường đầu độc chính bạn và mối quan hệ của bạn. Nó gây hại cho cả bạn lẫn người bạn đời. Nó còn khiến bạn luôn thấp thỏm lo sợ bị tổn thương thay vì tự tin vui sống.

Tác giả: Dawn Lipthrott.

Thursday, August 31, 2017

TỰ NƯƠNG TỰA VÀO CHÍNH MÌNH – TỰ MÌNH LÀ HÒN ĐẢO

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn [Mahāparinibbāna-sutta], Đức Phật dạy:
- Hãy lấy chính mình là hòn đảo [chỗ dựa] cho chính mình, lấy chính mình là nơi nương tựa của chính mình và đừng nương tựa vào người khác.

Chúng ta không thể nào hiểu được toàn bộ nghĩa “lấy bản thân mình” và ý nghĩa của lời khuyên của Đức Phật dành cho Ānanda. Tôn giả A Nan [Đà] vừa là học trò, vừa là thị giả của Đức Phật, đồng thời cũng là em chú bác ruột với Đức Phật. Khi Đức Phật đạt Giác Ngộ vào đêm Rằm tháng 4, lúc Đức Phật 35 tuổi, thì Tôn giả A Nan [Đà] được sinh ra, trừ phi chúng ta đi vào xem xét nguồn gốc và ngữ cảnh lúc những lời này được nói ra:

Đức Phật lúc đó đang ở một ngôi làng tên là Beluva, khoảng ba tháng trước khi Bát Niết Bàn. Lúc đó, do Đức Phật đã 80 tuổi và đang chịu đựng bệnh đau hiểm nghèo, gần như sắp chết [māranantika].

Nhưng Đức Phật nghĩ rằng sẽ không hay nếu Đức Phật Bát Niết Bàn mà không để lại lời khuyên cho những đệ tử gần gũi và thân cận của Người. Vì vậy, với sự can đảm và quyết tâm, Đức Phật chịu đựng đau đớn, cố gắng vượt qua bệnh đau và hồi phục. Nhưng sức khỏe của Đức Phật vẫn còn yếu. Sau khi hồi phục, Đức Phật ngồi dưới bóng cây bên trước chỗ Đức Phật lưu trú.

Ānanda, người hầu cận, thị giả tận tụy nhất của Đức Phật đến bên người thầy đáng kính, ngồi xuống gần Đức Phật và thưa rằng:
- Thưa Đức Thế Tôn! Con đã chăm sóc sức khỏe cho Đức Thế Tôn, con đã chăm sóc Đức Thế Tôn khi Đức Thế Tôn bệnh yếu. Nhưng khi nhìn thấy bệnh đau của Đức Thế Tôn, bầu trời trở nên tối mờ đi trong con, các giác quan của con không còn biết rõ ràng nữa. Còn một chút an ủi là: con nghĩ Đức Thế Tôn sẽ không đi xa trước khi Như Lai để lại một số di huấn cho Tăng Đoàn.

Và rồi, Đức Phật, với tâm bi mẫn, từ ái đã nhẹ nhàng nói với người thị giả đáng yêu và tận tụy của mình:
- Ānanda [A Nan Đà], Tăng Đoàn còn đang trông đợi gì ở Như Lai nữa? Như Lai đã giảng dạy Giáo Pháp [Dhamma – Phật Pháp] mà không hề phân biệt cái gì là công khai hay bí truyền. Về Chân Lý, Như Lai không có gì được gọi là còn trong nắm tay khép chặt của người thầy [ācariya-mutthi]. Chắc chắn, này Ānanda, nếu có bất cứ ai nghĩ rằng người ấy sẽ lãnh đạo Tăng Đoàn và Tăng Đoàn nên phụ thuộc vào người ấy và hãy để người ấy đưa ra chỉ thị. Nhưng Như Lai không có ý nghĩ như vậy.

- Vậy tại sao ta phải để lại di huấn về vấn đề Tăng Đoàn?

Bây giờ ta đã già, này Ānanda, đã tám mươi tuổi rồi. Giống như một chiếc xe đã hư cũ cần phải sửa chữa liên tục mới chạy được, vì vậy, hình như đối với ta, thân thể của Như Lai phải được sửa chữa liên tục mới giữ được.
- Vì thế, Ānanda, hãy lấy chính mình là hòn đảo [chỗ dựa] cho chính mình, lấy chính mình, không phải ai khác, là nơi nương tựa của chính mình; lấy Giáo Pháp [Dhamma] là hòn đảo [chỗ dựa], Giáo Pháp làm nơi nương tựa, không phải cái gì khác làm nơi nương tựa của mình.

Những điều Đức Phật muốn truyền thụ cho Ānanda đã rõ ràng. Ānanda đã rất buồn và trở nên u sầu. Người thị giả nghĩ rằng tất cả họ sẽ trở nên đơn độc, không người giúp đỡ, không nơi nương tựa, không còn ai dẫn dắt sau khi vị Đạo sư qua đời. Nên Đức Phật bèn an ủi, khuyến khích và động viên tôn giả Ānanda. Người nói rằng tất cả họ nên dựa vào chính bản thân mình và dựa vào Giáo Pháp mà Đức Phật đã giảng dạy, chứ không dựa vào ai khác hay bất cứ thứ gì khác. Đây chính là vấn đề của những lời dạy ấy.

Therefore, Ananda, be islands unto yourselves, refuges unto yourselves, seeking no external refuge; with the Dhamma as your island, the Dhamma as your refuge, seeking no other refuge. And how, Ananda, is a bhikkhu an island unto himself, a refuge unto himself, seeking no external refuge; with the Dhamma as his island, the Dhamma as his refuge, seeking no other refuge? When he dwells contemplating the body in the body, earnestly, clearly comprehending, and mindfully, after having overcome desire and sorrow in regard to the world; when he dwells contemplating feelings in feelings, the mind in the mind, and mental objects in mental objects, earnestly, clearly comprehending, and mindfully, after having overcome desire and sorrow in regard to the world, then, truly, he is an island unto himself, a refuge unto himself, seeking no external refuge; having the Dhamma as his island, the Dhamma as his refuge, seeking no other refuge. Those bhikkhus of mine, Ananda, who now or after I am gone, abide as an island unto themselves, as a refuge unto themselves, seeking no other refuge; having the Dhamma as their island and refuge, seeking no other refuge: it is they who will become the highest, if they have the desire to learn.

Mahaparinibbana Sutta 2:33-35.




Monday, August 28, 2017

VĂN HÓA ĐỌC

天子重英豪,
文章教爾曹;
萬般皆下品,
惟有讀書高。
Thiên tử trọng anh hào,
Văn chương giáo nhĩ tào;
Vạn ban giai hạ phẩm,
Duy hữu độc thư cao.

 
Nhà vua coi trọng người hiền tài hào kiệt.
Văn chương dạy cho chúng ta [những điều tốt đẹp, sâu sắc].
Tất cả các ngành nghề đều phẩm chất bình thường.
Duy chỉ có đọc sách là hành động cao quý.

Saturday, August 26, 2017

CHUYẾN VƯỢT BIỂN CẦU PHÁP CỦA VỊ QUỐC SƯ NHẬT BẢN


Từ năm 18 tuổi, Viên Nhĩ Biện Viên đã là một danh tăng ở đất nước Nhật Bản, được mọi người ngưỡng mộ vì kiến thức uyên thâm. Thế nhưng, không vừa ý, thỏa mãn với chính mình, Viên Nhĩ đã lặn lội sang tận Trung Hoa để cầu pháp. Và cuộc hành trình vượt biển cầu pháp của vị Quốc sư đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản cho tới nay vẫn còn là một huyền thoại khiến nhiều người phải thán phục...

Viên Nhĩ Biện Viên sinh năm 1202, mất năm 1280, vốn là người họ Bình, tên là Biện Viên, tự là Viên Nhĩ, vì vậy người đời sau mới gọi ông là Viên Nhĩ Biện Viên. Từ nhỏ, Viên Nhĩ đã thông minh hơn người. Lúc mới lên 5 tuổi đã bắt đầu theo học thầy Nghiêu Biện, một đại sư nổi tiếng thời bấy giờ.

Năm 12 tuổi, Viên Nhĩ theo học giáo nghĩa của Thiên Thai Tông. Tới năm 15 tuổi thì đã tinh thông tất cả mọi giáo lý kinh sách.Chuyện kể rằng, có lần Viên Nhĩ ngồi dưới nghe thầy giảng tới một câu thì thấy thầy ngập ngừng nhiều lần, không biết giảng tiếp thế nào nữa.Cậu học trò mới 15 tuổi Viên Nhĩ đã bước lên phía trước thay thầy giảng giải câu văn trong sách kinh điển một cách trôi chảy khiến tất cả mọi người có mặt trong lớp học hôm đó đều phải kinh ngạc.

Năm 18 tuổi, Viên Nhĩ xuống tóc, xuất gia ở chùa Viên Thành, quyết tâm theo học giáo lý của dòng Thiên Thai Tông. Sau đó, trong khoảng thời gian kéo dài 3 năm, Viên Nhĩ tới kinh đô và chuyên tâm học kinh điển của Nho Giáo. Song song với các giáo lý trên, Viên Nhĩ cũng tu tập theo Mật giáo của Thiên Thai Tông và được ấn chứng theo nghi lễ tông này năm 1228.
Vào thời điểm lúc bấy giờ, Viên Nhĩ được coi là người tinh thông cả giáo lý bên trong lẫn bên ngoài Phật Giáo, một đại sư cực kỳ uyên bác với kiến thức mà ai cũng phải kính nể.

Tuy nhiên, Viên Nhĩ lại cảm thấy rằng những kiến thức mà ông học được trong kinh điển trong và ngoài Phật Giáo đều chẳng có tác dụng gì với việc sống chết, nó chỉ giống như hạt muối giữa biển khơi mênh mông mà thôi. Quyết tâm mở rộng kiến thức của mình, Viên Nhĩ quyết định rời khỏi chùa Viên Thành, tới chùa Trường Lạc, bái thiền sư Vinh Triều là đệ tử nổi tiếng của Vinh Tây thiền sư, cùng Vinh Triều nghiên cứu Thiền Tông.

Vinh Tây là thiền sư Nhật Bản từng lặn lội sang Trung Quốc cầu học. Vinh Triều sau khi theo Vinh Tây học Thiền đã khai sáng chùa Trường Lạc dạy thiền, danh tiếng lừng lẫy một vùng. Lúc bấy giờ, Viên Nhĩ đang tìm lối thoát trong tư tưởng nên khi nghe danh Vinh Triều đã không quản ngại đường xá xa xôi, tìm tới chùa Trường Lạc.

Khi đó, Phật Giáo đã tới Nhật Bản từ lâu, song Thiền Tông thì vẫn chưa được truyền bá một cách rộng rãi. Chính vì vậy, những danh tăng thời bấy giờ nhiều người rất có hứng thú với Thiền Tông. Viên Nhĩ cũng không nằm ngoài số này.

Là một người đọc thông kinh điển trăm nhà, Viên Nhĩ cũng rất háo hức với hình thức và những quan niệm rất mới lạ của Thiền Tông so với Phật Giáo kinh điển. Tìm hiểu Thiền Tông chính là lý do lớn nhất khiến Viên Nhĩ quyết định rời Nhật Bản, đến Trung Hoa để cầu Phật Pháp.

Năm 1235, Viên Nhĩ quyết định lên đường tới Trung Hoa. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, thuyền của Viên Nhĩ đã tới đất Minh Châu của Nam Tống.Đến mảnh đất mới, lại thêm tâm ham học hỏi, Viên Nhĩ đã đi rất nhiều nơi, nơi đâu ông cũng dừng lại để xin được chỉ giáo. Nơi đặt chân đến đầu tiên của Viên Nhĩ chính là Luật viện Cảnh Đức ở Minh Châu. Tại đây, Viên Nhĩ nghe luật sư Thiện Nguyệt giảng về giới luật.
Sau khi rời  khỏi Cảnh Đức, Viên Nhĩ lại tới xin học đạo với Si Tuyệt Đạo Xung tại chùa Cảnh Đức ở núi Thiên Đồng. Sau khi học Si Tuyệt Đạo Xung, Viên Nhĩ lại tới Hàng Châu học giáo pháp của Thiên Thai tông với một đại sư nổi tiếng của dòng Thiên Thai tông ở Trung Quốc là Bá Đình Thiện Nguyệt.Thấy Viên Nhĩ có tâm cầu học, Bá Đình Thiện Nguyệt đã đem tất cả hiểu biết của mình về bốn bộ kinh kinh điển của Thiên Thai Tông truyền cho Viên Nhĩ.
Tuy nhiên, Viên Nhĩ cũng không ở lại lâu bên Bá Đình Thiện Nguyệt. Ít lâu sau đó, Viên Nhĩ lại cáo từ Bá Đình Thiện Nguyệt để tới núi Nam Bính theo học Tiếu Ông Diệu Thậm ở chùa Tịnh Từ và Thạch Điền Pháp Huân ở chùa Linh Ẩn. Trong suốt thời gian này, Viên Nhĩ qua lại liên tục ở hai chùa Tịnh Từ và Linh Ẩn.

Trong thời gian ở chùa Linh Ẩn, Viên Nhĩ đã may mắn gặp được Thôi Canh Đức Ninh, đệ tử của thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm. Thôi Canh Đức Ninh thấy Viên Nhĩ là người có chí hướng hơn người, mới nói với Viên Nhĩ rằng:

- Danh sư trong thiên hạ ngày nay chỉ có một mình thầy ta là Vô Chuẩn Sư Phạm, vì sao cậu không tới đó học mà cứ phải chạy khắp nơi này tới nơi khác như vậy cho cực nhọc?
Nghe theo lời khuyên của Thôi Canh Đức Ninh và cũng là vì tò mò, Viên Nhĩ đã lặn lội lên Kính Sơn để cầu học thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm.
Vô Chuẩn Sư Phạm là thiền sư nổi tiếng thời Nhà Nam Tống, được người ta ví như bậc Thái Sơn, Bắc Đẩu của Phật Giáo lúc bấy giờ. Vô Chuẩn Sư Phạm cũng là nhân vật trung tâm của hệ phái Dương Kỳ thuộc tông Lâm Tế của Thiền tông.

Khi Viên Nhĩ tìm tới Kinh Sơn cầu học Vô Chuẩn Sư Phạm, vừa nhìn thấy vị hòa thượng Nhật Bản, Vô Chuẩn đã biết không phải là người bình thường, vì vậy không những nhận Viên Nhĩ làm đệ tử mà còn cho phép Viên Nhĩ trở thành người hầu cận bên mình hằng ngày để tiện việc giảng pháp. Một hôm để gợi ý cho sự giác ngộ của Viên Nhĩ, Vô Chuẩn Sư Phạm đã đưa cho Viên Nhĩ công án nổi tiếng “Chiếc lược bí của Thủ Sơn”.

Công án này nói rằng, thiền sư Thủ Sơn Tỉnh Niệm đã đem một cái lược trúc hỏi một vị hành tăng rằng nên gọi nó là cái gì. Nếu như gọi là cái lược trúc thì người đó bị mắc phải sự cố chấp, chỉ biết tuân theo lối mòn người ta sắp sẵn từ trước.

Nếu như nói rằng nó chỉ là một đoạn trúc, tạm gọi là cái lược trúc thì thực chất vẫn gọi nó là cái lược trúc. Dùng lời gọi nó cũng không được, mà không gọi nó cũng không xong, vậy rốt cuộc thì nên gọi cái lược trúc là cái gì? Điều này trở thành một vấn đề nan giải.

Để ngộ được công án này, Viên Nhĩ đã ngày đêm nghiên cứu công án, song vẫn chẳng ngộ ra được đạo lý ẩn sâu bên trong đó. Nguyên nhân là vì, từ trước tới nay, Viên Nhĩ đều theo học Thiên Thai Tông và Mật Tông, hai tông phái này vốn rất cố chấp với những lời dạy của Phật Thích Ca, coi là khuôn vàng thước ngọc, không thể thay đổi.
Cũng chính vì vậy, tư tưởng của những tông phái này bị chính sự cố chấp trong tư tưởng của mình bó buộc. Vô Chuẩn Sư Phạm chấp nhận một người có lại lịch như Viên Nhĩ làm đệ tử của mình, có thể thấy là ông vô cùng kỳ vọng vào người thanh niên Nhật Bản này.
Cho tới một ngày, Viên Nhĩ theo thường lệ trình bày với thầy những kiến giải của mình về vấn đề này. Vô Chuẩn Sư Phạm nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, tiến tới gần vung tay tát thẳng vào mặt Viên Nhĩ một cái như trời giáng khiến Viên Nhĩ lăn quay xuống đất.
Khi bị ngã nhào xuống đất, đau đớn và thở dốc thì cũng là lúc Viên Nhĩ ngộ ra chân lý. Ông đã thoát khỏi hai chữ “Hữu Vô” – “Có Không” để đạt tới trạng thái tĩnh tâm giác ngộ.
Lúc bấy giờ, Viên Nhĩ vội vàng đốt hương cảm ơn đại ơn đại đức của sự phụ đã giúp mình giác ngộ. Vô Chuẩn cũng cảm thấy rất vui vì cuối cùng Viên Nhĩ cũng đã có thể vượt qua được những chấp niệm đã đeo bám theo ông từ khi ông bắt đầu xuất gia theo Phật Pháp. Ngay trong hôm đó, Vô Chuẩn Sư Phạm đã ấn khả cho Viên Nhĩ.


Để chúc mừng Viên Nhĩ, Vô Chuẩn Sư Phạm còn tặng cho ông một bức tranh. Bức tranh  này ngày nay vẫn còn được trưng bày ở Nhật Bản. Sau khi được Vô Chuẩn Sư Phạm ấn chứng, Viên Nhĩ tiếp tục ở lại theo học Vô Chuẩn thêm 3 năm nữa rồi mới cáo biệt, trở về Nhật Bản.
Sau 8 năm cầu pháp ở Trung Quốc, Viên Nhĩ trở về tới Nhật Bản. Tại quê nhà, Viên Nhĩ đã sáng lập chùa Đông Phúc (Tofuku-ji) tại kinh đô Kyoto và trở thành sư trụ trì tại nơi đây.
Ngoài ra, Viên Nhĩ còn quản lý hai thiền viện khác là Thụ Phúc (Jufuku-ji) và Kiến Nhân (Kennin-ji), cả ba đều là những thiền viện quan trọng nằm trong hệ thống “Ngũ sơn thập sát” của Liêm Thương và Kinh Đô.
Do xuất thân từ Thiên Thai Tông rồi đắc đạo với Thiền Tông, phương pháp dạy đệ tử của Viên Nhĩ bao gồm giáo lý của Thiên Thai, Chân ngôn và cả Thiền Tông nhưng khác với phương pháp của Vinh Tây, Thiền tông trong giáo pháp của Viên Nhĩ được xếp cao hơn hẳn hai giáo môn còn lại.
Do những công trạng to lớn của Viên Nhĩ đối với sự phát triển của Thiền tông Nhật Bản, nên sau khi ông viên tịch, Hoa Viên Thiên Hoàng đã phong tặng cho ông tước hiệu Thánh Nhất Quốc sư. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản có danh hiệu Quốc sư và Viên Nhĩ cũng là vị Quốc sư đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo của quốc gia này.